Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế là Nghệ nhân Ưu tú gắn bó hơn 8 thập kỷ với tranh dân gian Đông Hồ tại Bắc Ninh. Ông được biết đến là người có nhiều đóng góp trong việc sưu tầm mộc bản cổ, phục dựng kỹ thuật in tranh truyền thống và truyền dạy nghề làm tranh dân gian Đông Hồ cho thế hệ sau.
Với những ai đang tìm hiểu nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế là ai, câu chuyện của ông không chỉ là tiểu sử của một người làm tranh lâu năm. Đó còn là hành trình giữ lại giấy dó, màu điệp, ván khắc gỗ và tinh thần dân gian của làng tranh Đông Hồ trước nguy cơ mai một.
Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ tiểu sử nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, vai trò của ông trong việc bảo tồn tranh Đông Hồ, những đóng góp nổi bật với làng nghề và lý do ông được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu của tranh dân gian Việt Nam.
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế là ai?
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế là một trong những gương mặt tiêu biểu của làng tranh Đông Hồ, Bắc Ninh. Ông là truyền nhân đời thứ 20 của dòng họ Nguyễn Đăng, một gia đình nhiều thế hệ gắn bó với nghề làm tranh dân gian Đông Hồ.
Tên tuổi của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế gắn liền với hành trình sưu tầm, bảo vệ và phục dựng những bản khắc gỗ cổ từng có nguy cơ bị thất lạc. Ông kiên trì giữ lại kỹ thuật làm tranh truyền thống bằng giấy dó, màu tự nhiên, hồ nếp và ván khắc gỗ, những yếu tố tạo nên vẻ đẹp mộc mạc rất riêng của tranh Đông Hồ.
Điểm đáng quý ở nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế là ông không chỉ giữ nghề trong ký ức. Ông biến không gian làm tranh của gia đình thành nơi trưng bày, truyền dạy và giới thiệu tranh Đông Hồ đến học sinh, du khách, nhà nghiên cứu và những người yêu văn hóa dân gian.
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế là người góp phần quan trọng trong hành trình hồi sinh tranh Đông Hồ sau giai đoạn làng nghề suy giảm mạnh vào cuối thế kỷ 20. Nhờ sự bền bỉ của ông, những mộc bản cũ, màu điệp và giấy dó vẫn tiếp tục kể câu chuyện văn hóa Kinh Bắc trong đời sống hôm nay.
Tiểu sử nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và cội rễ 500 năm của dòng họ Nguyễn Đăng
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế sinh ra trong môi trường mà tranh Đông Hồ không chỉ là nghề mưu sinh. Với gia đình ông, tranh là ký ức, là nếp nhà và là phần hồn của làng Hồ.
Ông là truyền nhân đời thứ 20 của dòng họ Nguyễn Đăng. Dòng họ này được xem là một trong những gia đình có truyền thống lâu đời trong nghề làm tranh dân gian Đông Hồ.
Từ khi còn nhỏ, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã tiếp xúc với giấy dó, mộc bản và màu điệp. Những vật liệu ấy xuất hiện trong đời sống hằng ngày của ông như một phần tự nhiên của tuổi thơ.
Ở tuổi 11, 12, khi nhiều đứa trẻ còn mải chơi, cậu bé Nguyễn Đăng Chế đã làm quen với những công đoạn đầu tiên của nghề tranh. Ông quan sát người lớn quét hồ điệp, chuẩn bị giấy, khắc ván và in từng lớp màu lên tranh.
Mùi giấy dó, mùi hồ nếp và tiếng đục trên ván gỗ dần trở thành ký ức sâu nhất của ông. Chính những năm tháng đó đã tạo nên nền tảng để nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế gắn bó với tranh Đông Hồ trong suốt cuộc đời.

Tuổi thơ bên giấy dó, mộc bản và màu điệp
Tranh Đông Hồ không phải loại tranh chỉ cần vẽ bằng tay trên giấy. Mỗi bức tranh là kết quả của nhiều công đoạn thủ công, từ tạo mẫu, khắc ván, chuẩn bị màu đến in từng lớp trên giấy dó.
Với nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, những kỹ thuật ấy không đến từ sách vở trước tiên. Chúng đến từ quan sát, thực hành và sống trong môi trường làng nghề.
Ông lớn lên cùng những bản khắc gỗ thị, gỗ thừng mực và những tờ giấy dó phủ điệp lấp lánh. Lớp điệp được tạo từ vỏ sò nghiền nhỏ, trộn với hồ nếp, rồi quét lên mặt giấy để tạo ánh sáng riêng cho tranh Đông Hồ.
Điều quan trọng là nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế không chỉ học cách làm tranh. Ông học cách hiểu tinh thần của tranh Đông Hồ: giản dị, dí dỏm, mộc mạc nhưng giàu triết lý dân gian.
Những bức tranh như Đám cưới chuột, Cậu bé ôm gà, Hứng dừa, Đánh ghen không đơn thuần là hình ảnh trang trí. Chúng phản ánh đời sống, niềm vui, lời châm biếm và ước vọng của người Việt xưa.
Từ làng Hồ đến môi trường mỹ thuật chuyên nghiệp
Con đường của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế không dừng lại trong phạm vi làng nghề. Năm 1960, ông rời quê để theo học và sau đó làm việc trong môi trường mỹ thuật tại Hà Nội.
Giai đoạn này giúp nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế tiếp cận tư duy tạo hình bài bản hơn. Ông có cơ hội nhìn tranh dân gian Đông Hồ bằng góc nhìn của mỹ thuật hiện đại.
Tư duy đồ họa giúp ông hiểu rõ hơn về bố cục, mảng màu, đường nét và nhịp điệu thị giác. Nhưng điều đáng quý là ông không đánh mất gốc dân gian của tranh Đông Hồ.
Sự kết hợp giữa tri thức mỹ thuật và vốn sống làng nghề tạo nên nhãn quan riêng của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế. Ông hiểu rằng muốn bảo tồn tranh Đông Hồ, chỉ yêu nghề là chưa đủ. Người giữ nghề còn phải biết hệ thống hóa, truyền dạy và làm cho di sản có chỗ đứng trong đời sống mới.
Khúc quanh năm 1992: Lời hứa đưa tranh Đông Hồ “Sống dậy”
Những năm đầu thập niên 90, cơn lốc kinh tế thị trường tràn qua các làng quê Việt Nam. Làng Hồ cũng không ngoại lệ. Dân làng bỏ nghề in tranh vì không sống nổi, họ chuyển sang làm hàng mã, đục đồ gỗ thủ công mỹ nghệ. Cảnh tượng lúc bấy giờ vô cùng xót xa: những mộc bản cổ – kết tinh trí tuệ của bao thế hệ – bị vứt chỏng chơ góc bếp, thậm chí bị chẻ ra làm củi đun. Lớp giấy điệp lấp lánh ngày nào giờ bị phủ một lớp bụi mờ của sự lãng quên. Nghề tranh Đông Hồ đứng trước nguy cơ bị “xóa sổ” vĩnh viễn.
Năm 1992, ở tuổi 60, khi vừa cầm sổ hưu, lẽ ra ông có thể chọn cho mình một tuổi già an nhàn. Thế nhưng, cảm xúc nhói lòng khi nhìn thấy di sản của cha ông lụi tàn đã thôi thúc Nguyễn Đăng Chế đưa ra một quyết định lịch sử. Ông gom góp toàn bộ chút tiền hưu trí, tiền tiết kiệm của gia đình để lóc cóc đạp xe đi từng nhà trong làng. Ông nài nỉ, thuyết phục để mua lại, xin lại từng mảnh ván khắc cũ kỹ, nứt nẻ.
Không dừng lại ở đó, ông vận động toàn bộ các thành viên trong gia đình – từ con trai, con dâu đến các cháu nội, ngoại – cùng chung tay lập xưởng in tranh. Từ một xưởng nhỏ của gia đình, bằng sự kiên trì nhẫn nại suốt hàng chục năm, cơ ngơi ấy nay đã phát triển thành “Trung tâm lưu giữ, bảo tồn dòng tranh dân gian Đông Hồ” quy mô và bài bản nhất Bắc Ninh.

Giải mã kỹ thuật “Độc bản” & Chấp niệm với màu sắc thiên nhiên
Điều khiến Trung tâm của Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế hơn các cơ sở sản xuất rập khuôn chính là sự trân trọng tuyệt đối tính “độc bản” của tranh dân gian. Hiện nay, ông đang nắm giữ một kho báu thực sự với hơn 100 bản khắc gỗ cổ có tuổi đời hàng trăm năm, cùng với gần 1.000 bản khắc do chính tay ông phục dựng và sáng tác mới.
Nhưng giá trị cốt lõi nhất làm nên linh hồn của một bức tranh Đông Hồ đúng chuẩn Nguyễn Đăng Chế nằm ở sự bảo thủ đầy tự hào của ông với màu sắc. Ông kiên quyết từ chối phẩm màu công nghiệp rẻ tiền, dễ phai, để gìn giữ bảng màu nguyên bản được chắt chiu từ mẹ thiên nhiên.

Bảng màu từ thiên nhiên
“Làm sao để lớp màu ấy không chỉ đẹp, mà còn ngân lên được câu chuyện của người Việt xưa…” – Đó là triết lý mà ông luôn răn dạy con cháu.
- Màu trắng điệp: Được làm từ vỏ con điệp (một loại sò) biển điệp nghiền nát, trộn với hồ nếp (được nấu chảy từ gạo nếp cái hoa vàng) rồi dùng chổi rễ thông quét lên mặt giấy dó. Lớp điệp này tạo nên một nền giấy vừa sáng, vừa có độ gợn lấp lánh dưới ánh sáng.
- Màu đỏ: Được tạo ra từ sỏi son đỏ. Ông phải thuê người lặn lội lên tận núi Kép (Bắc Giang) nhặt những viên sỏi đỏ về, giã nhỏ, rây mịn để lấy màu.
- Màu vàng: Không phải vàng hóa học mà là màu vàng chắt lọc từ hoa hòe – một vị thuốc Bắc đắt đỏ, mang lại sắc vàng rực rỡ nhưng vẫn đằm thắm.
- Màu xanh: Lấy từ lá tràm (hoặc lá chàm). Gia đình ông phải lặn lội lên tận vùng núi cao của đồng bào dân tộc Nùng để thu mua lá về ủ màu.
- Màu đen: Tinh túy nhất là màu đen được làm từ than lá tre đốt ủ theo một kỹ thuật cực kỳ khắt khe, giúp màu in sắc nét, thấm sâu vào giấy điệp và hàng trăm năm không bị bay màu.
Đóng góp của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế với tranh Đông Hồ
Đóng góp của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế với tranh Đông Hồ không chỉ nằm ở việc gìn giữ một nghề truyền thống. Giá trị lớn hơn là ông đã góp phần đưa dòng tranh dân gian này trở lại đời sống sau giai đoạn mai một, bằng cách phục dựng mộc bản, duy trì kỹ thuật làm tranh cổ và truyền nghề cho thế hệ sau.
- Sưu tầm và bảo vệ mộc bản cổ: Mộc bản là tư liệu gốc của tranh Đông Hồ. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã dành nhiều công sức tìm lại những bản khắc bị bỏ quên, hư hại hoặc có nguy cơ thất lạc. Nhờ đó, nhiều đường nét, bố cục và mẫu tranh cổ vẫn được lưu giữ đến hôm nay.
- Phục dựng các bản khắc có nguy cơ thất truyền: Với những mộc bản đã cũ hoặc không còn nguyên vẹn, ông tiến hành phục dựng dựa trên kinh nghiệm nghề và hiểu biết sâu về tạo hình dân gian. Việc này giúp nhiều mẫu tranh Đông Hồ tiếp tục được in, trưng bày và giới thiệu với công chúng.
- Duy trì kỹ thuật làm tranh truyền thống: Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế kiên trì giữ cách làm tranh bằng giấy dó, hồ nếp, màu tự nhiên và ván khắc gỗ. Đây là những yếu tố tạo nên vẻ đẹp mộc mạc, óng ánh và giàu bản sắc của tranh Đông Hồ, khác biệt với các sản phẩm in công nghiệp.
- Lập xưởng gia đình và tạo không gian bảo tồn sống: Ông không giữ tranh Đông Hồ như một kỷ vật nằm yên trong quá khứ. Không gian làm tranh của gia đình được phát triển thành nơi sản xuất, trưng bày, giới thiệu và giúp người xem hiểu trực tiếp quy trình làm tranh.
- Truyền nghề cho thế hệ sau: Một di sản chỉ thật sự sống khi còn người tiếp tục thực hành. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã truyền nghề cho con cháu, trong đó có nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm, đồng thời giúp học sinh, sinh viên và du khách tiếp cận nghề tranh qua trải nghiệm thực tế.
- Đưa tranh Đông Hồ đến gần công chúng hiện đại: Thông qua hoạt động trưng bày, giới thiệu và trải nghiệm in tranh, ông giúp tranh Đông Hồ không còn là khái niệm xa lạ trong sách vở. Người xem có thể tận mắt nhìn mộc bản, chạm vào giấy điệp và tự tay in một lớp màu lên tranh.
- Sáng tác đề tài mới trên nền kỹ thuật truyền thống: Bên cạnh việc gìn giữ các mẫu tranh cổ như Đám cưới chuột, Cậu bé ôm gà hay Hứng dừa, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế còn phát triển thêm đề tài mới. Cách làm này giúp tranh Đông Hồ tiếp tục đối thoại với đời sống hôm nay mà vẫn không đánh mất bản sắc dân gian.
Những đóng góp của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế là phục dựng cả một hệ sinh thái nghề: từ mộc bản, giấy dó, màu tự nhiên, kỹ thuật in đến truyền nghề và trải nghiệm văn hóa. Nhờ sự bền bỉ ấy, tranh Đông Hồ không chỉ được lưu giữ như di sản quá khứ, mà còn tiếp tục sống trong đời sống hiện đại.
Người nghệ nhân không chịu “cũ”: Đổi mới để bảo tồn
Nếu chỉ giữ khư khư những gì đã có, di sản sẽ dễ trở thành “bảo tàng chết”. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế hiểu rất rõ điều đó. Bên cạnh những bức tranh kinh điển như Đám cưới chuột, Cậu bé ôm gà, Hứng dừa, Đánh ghen…, ông không ngừng sáng tác.
Những bức tranh mang hơi thở thời đại, tranh về lễ hội dân gian như Hội Lim (Quan họ Bắc Ninh), hay các bức tranh mang tính chất tuyên truyền cổ động, phong cảnh nông thôn mới đã ra đời từ bàn tay của ông.
Dù đề tài có mới đến đâu, ông vẫn duy trì kỷ luật thép với 3 bước chế tác truyền thống: Vẽ mẫu (bước khó nhất, đòi hỏi sự tinh tế để phân mảng màu) -> Khắc ván (mỗi màu là một bản khắc riêng biệt) -> In tranh (in lần lượt từng màu, màu cuối cùng luôn là màu đen để tạo nét viền).
Hơn cả một nghệ nhân, ông là người truyền lửa vĩ đại. Nghề nay đã được trao truyền vững chắc cho thế hệ sau, tiêu biểu là người con trai – Nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm. Khu bảo tồn của gia đình giờ đây không chỉ in tranh mà còn là một không gian văn hóa sống động, nơi du khách quốc tế đổ về tham quan, và là kho tư liệu quý giá cho điện ảnh, sân khấu khi cần tìm hiểu về văn hóa và trang phục Việt xưa.

Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế không chỉ là một người thợ in tranh tài hoa xuất chúng. Ông thực sự là một “chiến sĩ” trên mặt trận văn hóa, một người đã kiên cường chống lại sự băng hoại của thời gian để bảo vệ hồn cốt dân tộc. Cuộc đời ông là một thông điệp mạnh mẽ gửi đến thế hệ trẻ: Đổi mới là cần thiết, nhưng bản sắc và cội nguồn mới là thứ làm nên giá trị trường tồn.
Nếu có dịp về với mảnh đất Kinh Bắc, bạn hãy một lần đặt chân đến Thuận Thành, Bắc Ninh, ghé thăm Trung tâm bảo tồn tranh Đông Hồ của gia đình cụ Chế. Tự tay cầm “tay xơ” in một lớp màu lên mặt giấy điệp lấp lánh, ngửi mùi thơm của hồ nếp và giấy dó, bạn sẽ hiểu vì sao người nghệ nhân ấy lại dành trọn một thế kỷ đời mình để yêu và gìn giữ những mảnh ván gỗ tưởng chừng vô tri này.

