Tranh Đông Hồ không chỉ là một dòng tranh nghệ thuật đơn thuần mà còn là hồn dân tộc lưu giữ qua thời gian. Trải qua bao thăng trầm những bức tranh ấy vẫn là biểu tượng của sự may mắn và niềm tự hào của người Việt. Trong bài viết này chúng ta sẽ cùng khám phá sâu hơn về dòng tranh Làng Mái độc bản này.
Tranh Đông Hồ là gì?
Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh dân gian Đông Hồ, là dòng tranh khắc gỗ dân gian nổi tiếng có xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Người xưa còn gọi đây là tranh làng Mái gắn liền với địa danh quê hương của dòng tranh này. Điểm khác biệt lớn nhất so với các dòng tranh khác chính là kỹ thuật in thủ công từ ván gỗ và sử dụng hoàn toàn chất liệu từ thiên nhiên.
Trong kho tàng tranh dân gian Việt Nam như Hàng Trống, Kim Hoàng, Sình, tranh Đông Hồ vô cùng đặc biệt. Nó không chỉ là món đồ trang trí, mà còn là tiếng nói tâm hồn của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi bức tranh là một lời chúc tụng, một bài học đạo lý hay một sự châm biếm sâu sắc về các hủ tục xã hội, phản ánh chân thực đời sống sinh hoạt và khát vọng của người Việt xưa.
Với những giá trị văn hóa, lịch sử năm 2013, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và được UNESCO công nhận ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp tại kỳ họp lần thứ 20 vào tháng 12 năm 2025.

Nguồn gốc và lịch sử làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh)
Nghề làm tranh Đông Hồ được hình thành từ khoảng thế kỷ XVI, phát triển rực rỡ tại làng Đông Hồ bên bờ sông Đuống. Với bề dày lịch sử hơn 500 năm làng nghề đã trải qua nhiều giai đoạn nhưng nghề tranh vẫn được các dòng họ gìn giữ lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Đã từng có thời cứ mỗi độ Tết chợ tranh Đông Hồ lại tấp nập người mua kẻ bán. Câu thơ của Tú Xương: “Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột / Om sòm trên vách bức tranh gà” đã khắc họa rõ nét văn hóa chơi tranh của người Việt. Tranh Đông Hồ khi đó là món ăn tinh thần không thể thiếu mang lại niềm hy vọng cho mọi nhà vào dịp đầu năm mới.
Sự tồn tại của tranh Đông Hồ ngày nay ghi dấu công lao to lớn của các nghệ nhân lão thành như Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Đăng Chế và Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Quả (con trai nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam).
Đặc trưng của dòng tranh dân gian Đông Hồ
Kỹ thuật làm giấy điệp
Sự độc đáo nhất của tranh Đông Hồ nằm ở chất liệu giấy điệp. Người nghệ nhân nghiền nát vỏ con điệp (một loại sò biển vỏ mỏng) thành bột mịn, sau đó trộn đều với hồ nấu từ gạo tẻ hoặc gạo nếp thơm. Thay vì cọ thông thường, họ sử dụng chổi lá thông để quét lớp hỗn hợp này lên nền giấy dó bền bỉ. Những đường chổi quét qua không chỉ để lại lớp nền trắng sáng, nhám mịn mà còn tạo nên những đường gân li ti và hiệu ứng ánh kim lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Màu sắc tự nhiên
Nếu giấy Điệp là xương sống thì bảng màu chính là linh hồn tạo nên sức sống cho tranh Đông Hồ. Màu sắc trong tranh Đông Hồ không dùng hóa chất mà được tinh chế từ cây cỏ, khoáng vật trong thiên nhiên:
- Màu đen: đốt từ tro lá tre khô hoặc tro rơm rạ.
- Màu đỏ: Được tán từ sỏi son trên núi hoặc nấu từ gỗ vang.
- Màu vàng: Chiết xuất từ hoa hòe rang vàng hoặc hạt dành dành.
- Màu xanh: Kết tinh từ lá chàm hoặc gỉ đồng xanh.
Sự mộc mạc của bảng màu này không hề đơn điệu. Ngược lại, chúng tạo nên một tổng thể hài hòa, bền bỉ cùng thời gian và mang lại cảm giác gần gũi đối với tâm thức người Việt.

Nghệ thuật khắc ván gỗ
Sự độc bản của tranh Đông Hồ còn thể hiện qua việc không vẽ tay trực tiếp mà là nghệ thuật in khắc gỗ. Để ra đời một tác phẩm người nghệ nhân phải thực hiện một quy trình chồng màu khắt khe. Mỗi một màu xuất hiện trên bức tranh tương ứng với một bản khắc gỗ riêng. Điều này nghĩa là nếu bức tranh có 5 màu nghệ nhân phải thực hiện 5 lần in trên cùng một tờ giấy.

Thách thức lớn nhất nằm ở khâu chạm trổ ván in: các nét khắc phải cực kỳ tinh xảo và chuẩn xác đến từng milimet. Khi đặt giấy lên bản in, nghệ nhân phải để các mảng màu khớp khít với nhau không bị lệch. Chính kỹ thuật in ngửa đặt giấy lên ván in rồi dùng xơ mướp xoa đều đã tạo nên những mảng màu có độ thấu quang và chiều sâu cơ học, khiến hình ảnh trở nên sống động.

Ý nghĩa của các bức tranh Đông Hồ phổ biến
Khi nói đến tranh làng Hồ, không thể không nhắc đến những bức tranh in nổi tiếng như Đánh ghen, Đám cưới chuột hay Hứng dừa, gửi gắm ước mơ về một cuộc sống giàu có, sung túc và thể hiện khát vọng mùa màng bội thu. Ngoài ra, nội dung tranh còn đề cao tình làng nghĩa xóm và gắn bó giữa con người với nhau qua các bức tranh Đàn lợn, Đàn gà.
Tranh Đông Hồ Đám cưới chuột
Đầu tiên là bức tranh Đám cưới chuột. Đây là một những bức tranh Đông Hồ nổi tiếng về nghệ thuật châm biếm. Bức tranh vẽ cảnh đàn chuột mang lễ vật rước dâu nhưng phải dâng cống cho con mèo đứng chặn đường, móng vuốt giơ cao.
Tác phẩm ngầm phê phán nạn tham quan, đút lót và cảnh mua quan bán chức trong xã hội phong kiến. Chúng cũng phản ánh cuộc sống cơ cực của người dân khi làm lụng vất vả nhưng vẫn bị áp bức bởi tầng lớp cường hào, quan lại.

Tranh dân gian Đông Hồ Đàn lợn âm dương
Bức tranh Đông Hồ nổi tiếng thứ hai phải nói đến bức Đàn lợn âm dương. Tác phẩm mô tả đàn lợn một cách ấn tượng, cách điệu khỏe khoắn mà vẫn mềm mại. Trên thân chúng xuất hiện những vòng xoáy âm dương tượng trưng sự hài hòa và giao thoa giữa trời và đất.
Bức tranh đã gửi gắm ý nghĩa cầu chúc phát tài, phát lộc, sung túc, mong ước về gia đình hạnh phúc, con cháu sum vầy.

Tranh Đông Hồ Gà mẹ và đàn con
Bức tranh Đông Hồ được đa số mọi người biết đến tiếp theo là bức Gà mẹ và đàn con miêu tả một cô gà mái mẹ ở bên đàn con nhỏ.
Tác phẩm thường được treo trong dịp Tết như một lời chúc tốt lành cho năm mới: mong gia đình đông con, hòa thuận, hạnh phúc, và cầu cho con cháu khỏe mạnh, sung túc.

Tranh Đông Hồ Lý ngư vọng nguyệt
Lý ngư vọng nguyệt là một trong những bức tranh Đông Hồ nổi tiếng nhất, thường được các gia đình treo vào dịp Tết trong những năm có người chuẩn bị thi cử.
Những bức tranh Đông Hồ này mang ý nghĩa ước mong con cái học hành chăm chỉ, thi cử đỗ đạt, tượng trưng cho khát vọng “cá chép hóa rồng”.
Không chỉ vậy, cá chép trong tranh còn là biểu tượng của may mắn, thịnh vượng và tài lộc.

Tranh Đông Hồ vinh quy bái Tổ
Một trong những bức tranh Đông Hồ nổi tiếng tiếp theo là bức vinh quy bái Tổ. Tác phẩm thường được tặng cho người đỗ đạt mang về biếu cha mẹ, thầy cô để tỏ lòng biết ơn.
Bức tranh không chỉ mang ý nghĩa niềm tự hào mà còn thể hiện đạo lý của người Việt: “Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”.

Tranh dân gian Đông Hồ Thiên hạ thái bình
Tranh Thiên hạ thái bình thể hiện mong ước về một đất nước hòa bình, người dân ấm no, thịnh vượng. Khi được treo trong nhà, tác phẩm còn mang ý nghĩa cầu chúc bình an, xua đuổi tà ma và thu hút may mắn đến với gia đình.

Tranh Đông Hồ Vinh hoa – Phú quý
Vinh hoa phú quý là bức tranh mang ý nghĩa mong ước về một gia đình đủ đầy, sung túc và may mắn, con đàn cháu đống.

Tranh Đông Hồ Tố nữ
Bộ tranh Tố nữ Đông Hồ miêu tả bốn cô gái đang chơi nhạc bằng nét vẽ tinh tế. Với sự kết hợp giữa hình vẽ và tứ thơ, bức tranh thể hiện tài năng và tâm hồn thiếu nữ Việt Nam xưa, cũng như nét văn hóa đặc sắc của dân tộc.

Tranh Đông Hồ gà dạ xướng
Tranh Dạ xướng ngũ canh hoà (Gà gáy năm canh) khắc họa hình ảnh gà trống hiên ngang, sẵn sàng đối mặt kẻ thù. Theo quan niệm truyền thống, tiếng gà gáy có tác dụng xua tan âm khí, đem lại may mắn và bình an cho gia chủ. Không dừng lại ở giá trị phong thủy, bức tranh Gà gáy năm canh còn là biểu tượng cho phẩm chất của con người, đặc biệt là giữ chữ tín.

Tranh dân gian Đông Hồ hứng dừa
Bức tranh Đông Hồ Hứng dừa là một tác phẩm nghệ thuật dân gian Việt Nam tiêu biểu, mang vẻ đẹp truyền thống. Bức tranh miêu tả hình ảnh người phụ nữ mặc áo dài, đầu đội khăn, đang đứng dưới tán dừa và giơ tay hứng quả. Cây dừa trong tranh được vẽ bằng những đường nét cong uốn lượn mềm mại.

Tranh Đông Hồ Đánh ghen
Bức tranh Đánh ghen sử dụng đường nét và tỉ lệ hình ảnh cân đối, mô tả nghệ thuật cùng cảm thức sáng tạo và dí dỏm. Trong tranh, hình ảnh bà vợ xắn váy quai cồng tiến tới, cầm kéo đòi cắt tóc cô nhân tình được khắc họa hớ hênh, mang vẻ thách thức và chanh chua với bộ ngực trần. Ông chồng tuy bị bắt quả tang vẫn không hề ăn năn: một tay vẫn giữ bộ ngực trần, ôm chặt vào lòng để bảo vệ, trong khi tay kia lại cố gắng hòa hoãn với bà vợ. Tất cả tạo nên một dư vị bi hài vừa chua chát vừa trào lộng, gợi nhắc câu chuyện muôn thuở về cảnh “chồng chung vợ chạ” trong những gia đình khá giả.

Tranh hổ Đông Hồ
Bức tranh hổ khắc họa sức mạnh và uy nghiêm của loài hổ qua ánh mắt, chòm râu và vẻ mặt đầy khí chất trong nhiều tư thế như hổ đứng, hổ ngồi, hay hổ cưỡi mây lướt gió tượng trưng cho các vị thần diệt trừ tà ma và đuổi những điều xui xẻo. Về mặt tạo hình, bố cục bức tranh được sắp xếp chặt chẽ, cân đối, xung quanh được cách điệu giang sơn rừng núi bằng những nét vẽ cây cỏ tối giản nổi bật chủ thể chính ở trung tâm một con hổ uy nghiêm.

Tranh dân gian Đông Hồ chăn trâu
Tranh chăn trâu thổi sáo ca ngợi cuộc sống bình yên của làng quê Việt Nam. Trên tranh có chữ “Nhất tướng phúc lộc điền” nghĩa là “Được mùa nhất người dân” như lời chúc niềm tin vào mùa màng thuận lợi. Tác phẩm tái hiện cuộc sống giản dị của những em bé chăn trâu ngày xưa: con trâu vừa là tài sản lớn của gia đình mà cậu bé phải trông nom, lại vừa là người bạn thân thiết luôn kề bên. Nhìn bức tranh, ta dễ dàng cảm nhận niềm vui, sự gắn bó và nét thơ mộng của tuổi thơ nơi thôn quê.

Tranh Đông Hồ Nhân nghĩa lễ trí
Cặp tranh Nhân Nghĩa – Em Bé Ôm Cóc và Lễ Trí – Em Bé Ôm Rùa là một lời nhắc về những đức tính quan trọng trong cuộc sống. Thông qua hình ảnh gần gũi, các bức tranh gửi thông điệp giáo dục về tình yêu thương, lòng nhân ái, sự công bằng, trí tuệ và lễ nghĩa. Ngoài ra, bức tranh còn mang ý nghĩa khuyến khích mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, học hỏi và thực hành các phẩm chất tốt đẹp.

Quy trình chế tác một bức tranh Đông Hồ thủ công
Để tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh, người nghệ nhân phải trải qua quy trình như sau:
- Bước 1: Sáng tác mẫu và khắc ván gỗ: Nghệ nhân vẽ mẫu trên giấy mỏng rồi dán vào gỗ thị hoặc gỗ mỡ để khắc. Mỗi màu sắc trong tranh cần một bản khắc riêng, bản nét (màu đen) thường được khắc sau cùng.
- Bước 2: Chuẩn bị giấy điệp: Quét hồ điệp lên giấy dó. Bước này cần sự khéo léo để lớp hồ đều, không bị vón cục.
- Bước 3: Kỹ thuật in ngửa ván: Khác với in máy, nghệ nhân đặt ván ngửa, bôi màu lên ván rồi mới đặt giấy lên trên, dùng xơ mướp xoa đều để màu thấm vào giấy. Thứ tự in là màu nhạt trước, màu đậm sau, màu đen sau cùng để chốt nét.
- Bước 4: Chữa tranh: Kiểm tra lại các nét in, nếu có chỗ màu chưa đều, nghệ nhân sẽ dùng bút lông để dặm lại thủ công.
- Bước 5: Phơi tranh: Tranh sau khi in được phơi khô tự nhiên ở nơi thoáng mát. Ánh nắng và gió tự nhiên giúp màu sắc trở nên trầm ấm và bền màu theo thời gian.
So sánh hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống
Trong nghệ thuật dân gian Việt Nam, tại sao tranh Đông Hồ lại giữ được nét mộc mạc riêng biệt so với sự đài các của tranh Hàng Trống. Dù cùng là những dòng tranh nổi tiếng, hai dòng tranh này lại đại diện cho hai thế giới thẩm mỹ đối lập, phản ánh rõ nét sự phân tầng văn hóa giữa chốn làng quê và nơi kinh kỳ.
Kỹ thuật và chất liệu
Nếu tranh Đông Hồ là kết tinh của kỹ thuật in khắc gỗ 100% mỗi mảng màu là một lần chồng ván chính xác thì tranh Hàng Trống lại mang đậm dấu ấn cá nhân của họa sĩ. Ở dòng tranh phố cổ, nghệ nhân chỉ in bản nét đen bằng ván gỗ, sau đó mới tiến hành công đoạn vờn màu (tô màu thủ công). Chính vì vậy, mỗi bức tranh Hàng Trống luôn là một bản thể duy nhất với những nét loang màu uyển chuyển mà ván in không thể tạo ra được.
Về chất liệu, tranh Đông Hồ trung thành với giấy Điệp thô mộc, óng ánh sắc biển. Ngược lại, tranh Hàng Trống thường sử dụng giấy Dó hoặc giấy Xuyến chỉ mỏng manh nhưng thanh tao, kết hợp giữa màu khoáng tự nhiên và phẩm màu để tạo ra những dải sắc độ phong phú, sâu thẳm.
Màu sắc và biểu tượng
Cái hay của tranh Đông Hồ nằm ở sự tối giản nhưng đầy năng lượng với những gam màu nguyên bản, tươi sáng như chính tâm hồn người nông dân. Đề tài của Đông Hồ là hơi thở của ruộng đồng: con gà, đàn lợn, hay những hội làng.
Trái lại, tranh Hàng Trống lại chú trọng vào hiệu ứng đổ bóng và chiều sâu không gian. Những tác phẩm như Ngũ hổ hay Tố nữ không chỉ là tranh vẽ, mà là những kiệt tác nghệ thuật mang phong thái trang trọng, lịch lãm. Đề tài của dòng tranh này thường nghiêng về tín ngưỡng, tôn giáo và phong thủy, phục vụ cho nhu cầu thờ cúng và trang trí của tầng lớp thị dân, trí thức nơi đô hội.
Đối tượng phục vụ
Tranh Đông Hồ là dòng tranh của số đông, của những người lao động bình dân cầu mong một năm mới no ấm. Với giá thành vừa phải và ngôn ngữ hình ảnh dễ hiểu, nó len lỏi vào từng nếp nhà tranh. Trong khi đó, tranh Hàng Trống với quy trình chế tác cầu kỳ, tốn nhiều thời gian vẽ tay, vốn là món đồ xa xỉ dành cho giới thượng lưu, quý tộc xưa những người đòi hỏi khắt khe hơn về tính nghệ thuật và sự tinh tế.
Giá trị nghệ thuật
Khi đứng trước một bức tranh Đông Hồ, bạn không chỉ đang xem một tác phẩm nghệ thuật, mà đang mở ra một cánh cửa quay ngược thời gian về với không gian văn hóa đồng bằng Bắc Bộ. Nghệ thuật Đông Hồ không đánh đố người xem bằng những kỹ thuật hàn lâm phức tạp mà chinh phục trái tim bằng sự chân thật đến thuần khiết.
Trái ngược với vẻ mộc mạc ấy, tranh Hàng Trống lại mang đậm phong thái của nghệ thuật thị thành Hà Nội xưa. Giá trị nghệ thuật của dòng tranh này nằm ở sự trau chuốt, tinh xảo đến từng milimet. Nhờ kỹ thuật vờn màu thủ công độc đáo, các nghệ nhân đã tạo ra những mảng màu chuyển sắc mượt mà, tạo nên hiệu ứng thị giác về chiều sâu và độ nổi khối mà tranh Đông Hồ không có.

Tranh Đông Hồ trong đời sống hiện đại
Trong những năm gần đây sự lên ngôi của phong cách Indochine hay Tối giản đã mở đường cho tranh dân gian quay lại phòng khách của các gia đình trẻ. Không cần quá cầu kỳ, một cặp tranh “Vinh hoa – Phú quý” hay bộ “Tứ bình” sẽ trở thành điểm nhấn văn hóa ấn tượng giữa những mảng tường trắng hay nội thất sofa hiện đại.
Tranh Đông Hồ còn là món quà văn hóa lý tưởng cho đối tác nước ngoài hay bạn bè quốc tế. Khác với những món quà công nghiệp mỗi bức tranh là một tác phẩm thủ công mang theo hương đồng gió nội của Việt Nam. Tặng tranh Đông Hồ không đơn thuần là trao đi một vật phẩm, mà là kể cho họ nghe câu chuyện về triết lý sống, về kỹ thuật làm giấy vỏ điệp độc đáo.
Hơi thở của dòng tranh làng Mái còn len lỏi vào dòng chảy thương mại đầy sức sống. Các nhà thiết kế hiện đại đã khéo léo thổi hồn họa tiết Đông Hồ lên tà áo dài cách tân, túi xách hay bao bì bánh Trung thu, lịch Tết. Sự giao thoa này giúp những hình tượng cổ truyền như “Đám cưới chuột” hay “Lợn đàn” thoát khỏi sự cũ kỹ, trở nên trẻ trung, gần gũi và dễ dàng tiếp cận với thế hệ Gen Z cũng như thị hiếu thẩm mỹ đương đại.
Địa chỉ bán tranh Đông Hồ uy tín tại Hà Nội
Nhằm góp phần nhỏ vào việc khôi phục tranh Đông Hồ và đưa dòng tranh dân gian này tiếp cận gần với giới trẻ hiện nay, Artnam Gallery tự hào là đơn vị trưng bày và cung cấp các tác phẩm nghệ thuật Việt Nam đa dạng, từ tranh dân gian truyền thống đến nghệ thuật đương đại.
Nếu bạn đang tìm kiếm một địa chỉ uy tín để sở hữu những bức tranh Đông Hồ chất lượng, đảm bảo được in ấn và phục chế đúng kỹ thuật, giữ trọn vẻ đẹp của di sản văn hóa này, chúng tôi là lựa chọn đáng tin cậy vì những ưu điểm:
- Chất liệu cao cấp: tranh Đông Hồ, tranh dân gian của Artnam khác biệt với các dòng tranh trên thị trường. Tranh hoàn thiện sẽ có bề mặt phẳng lì, óng ánh tự nhiên, không chùng nhão, hở tưa vải.
- Nguồn gốc uy tín: Chúng tôi cam kết cung cấp các tác phẩm có nguồn gốc rõ ràng, giúp người yêu nghệ thuật an tâm về chất lượng và giá trị lịch sử của từng bức tranh.
- Đa dạng tác phẩm: Ngoài các bức tranh Đông Hồ nổi tiếng trên, Artnam còn cung cấp nhiều dòng tranh dân gian làng Hồ khác như tranh chúc tụng, tranh thờ, tranh sinh hoạt,…
Thông tin liên hệ:
- Website: https://artnam.vn/
- Hotline: 090 268 2448
- Fanpage: https://www.facebook.com/artnamgallery
Cách nhận biết tranh Đông Hồ truyền thống
Hiện nay, tranh Đông Hồ đang ngày càng được quan tâm chú ý trở lại, cũng có nhiều cửa hàng và triển lãm phân phối dòng tranh này với nhiều biến thể như tranh truyền thống, phục chế hoặc tranh in. Dưới đây là một số cách nhận biết tranh Đông Hồ truyền thống nguyên bản để bạn tham khảo:
- Giấy điệp: bề mặt không phẳng hoàn toàn có độ sần nhẹ, màu trắng đục không sáng như giấy công nghiệp
- Màu sắc: tranh Đông Hồ truyền thống chỉ dùng màu tự nhiên, hoàn toàn không sử dụng màu công nghiệp nên màu không gắt, tranh cũ phai nhẹ nhưng không loang màu.
- In ván khắc gỗ: tranh Đông Hồ in bằng cách mỗi màu tương ứng với một bản khắc riêng nên nét vẽ không đều, mảng màu không khít như tranh in offset.
🎨 Đặt tranh sáng tác theo yêu cầu 🎨
Artnam Gallery luôn sẵn sàng hiện thực hóa ý tưởng khách hàng, sở hữu những bức tranh độc bản mang dấu ấn riêng.
Liên hệ Artnam Gallery để nhận tư vấn và báo giá sáng tác chi tiết.
📞 Liên hệ đặt tranhTrải qua bao thăng trầm của lịch sử, tranh dân gian Đông Hồ vẫn tồn tại như một người giữ lửa cho tâm hồn Việt. Dù công nghệ in ấn hiện đại có phát triển đến đâu, những bản in máy công nghiệp sắc nét cũng không thể nào thay thế được những tờ giấy Điệp và sự tài hoa của người nghệ nhân làng Mái.
Sở hữu một bức tranh Đông Hồ hôm nay không đơn thuần là việc mua một món đồ trang trí. Đó là cách trân trọng quá khứ kết nối với cội nguồn và gieo những hạt mầm văn hóa cho thế hệ mai sau. Đừng để những “Đám cưới chuột”, “Vinh hoa”, “Phú quý” chỉ còn là những tệp tin kỹ thuật số vô hồn trên màn hình máy tính.
Thay vì chọn những bản in sao chép giá rẻ, hãy tìm đến những bức tranh chính gốc được chế tác thủ công. Mỗi tác phẩm bạn mang về nhà chính là một đóng góp quý giá giúp các gia đình nghệ nhân tại Thuận Thành, Bắc Ninh có thêm động lực để bám nghề, giữ nghiệp.
Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm những bức tranh dân gian đẹp khác tại Artnam để có sự lựa chọn phù hợp nhất.
